Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Nguồn gốc của dòng sông lớn nhất thế giới - đã được xác định và kết quả đáng ngạc nhiên.  Theo Báo cáo môi trường định kỳ đã đưa tin Nhà thám hiểm và nhà khoa học đã tranh cãi nơi để xác định vị trí bắt đầu của sông Amazon ít nhất là từ giữa những năm 1600 , không ít hơn năm con sông ở phía tây nam Peru được biết đến trong những năm qua .


Bây giờ các tác giả của một nghiên cứu được công bố trên tạp chí khu vực cho biết họ đã đặt nguồn gốc thực sự của dòng sông hùng vĩ của : sông Mantaro ở tây nam Peru. Nếu họ nói đúng, phát hiện của họ sẽ thêm 47-57 dặm ( 75-92 km) với chiều dài của Amazon , hiện đo tại khoảng 4.000 dặm ( 6.437 km) của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ .

Sử dụng sáu phương pháp đo lường khác nhau , bao gồm cả dữ liệu theo dõi GPS và vệ tinh hình ảnh Bcao môi trường chuyên nghiệp kayaker James Contos và nhóm của ông , được tài trợ một phần bởi sự tài trợ của Hội địa lý quốc gia , xác định rằng sông Mantaro dài hơn sông Apurímac khoảng 10 phần trăm , đã được coi là nguồn của Amazon từ năm 1971.

Một lý do Mantaro có thể đã bị bỏ qua, nói Contos và nhà nhân chủng học đồng tác giả Nicholas Tripcevich của Đại học California , Berkeley : Do cấu trúc xoắn trong nửa dưới của sông làm cho nó trông ngắn hơn nhiều so với thực tế.



Nhưng liệu có được công nhận quan điểm của Mantaro là lấy nguồn gốc thực sự của Amazon phụ thuộc vào định nghĩa nguồn của một dòng sông mà họ lựa chọn để áp dụng. Báo cáo giám sát định kỳ Đó có phải là điểm xa nhất thượng nguồn cung cấp khối lượng lớn nhất nước, hay là điểm xa nhất dài nhất nhánh trong lưu vực thoát nước của sông?

Định nghĩa quốc tế công nhận hiện nay là điểm xa nhất của nhánh dài nhất của một dòng sông chảy liên tục. Trong nghiên cứu của họ, Contos và Tripcevich cho rằng chiều dài của một nhánh  cho dù đó chảy quanh năm.



Sau đó , vào năm 1971, một đoàn thám hiểm địa lý quốc gia dẫn đầu bởi Loren McIntyre xác định đỉnh phủ tuyết trắng của Mismi ( bản đồ) là thượng nguồn của sông Apurímac và nguồn cuối cùng của Amazon. Một cuộc thám hiểm địa lý quốc gia theo dõi vào năm 2000 bao gồm Johnston, tiếp tục khẳng định Hồ Ticlla Cocha tại cơ sở của Mismi như đầu nguồn và Apurímac như phần mở rộng phía thượng lưu dài nhất của sông Amazon . Báo cáo giám sát môi trường định kỳ


Nhưng tác giả của nghiên cứu đề xuất rằng những thay đổi ngắn hạn trong dòng chảy hoặc thay đổi con người tạo ra để tự nhiên của sông không phải là một đối phó-breaker trong việc xác định nguồn gốc của một con sông . Nguồn xa nhất cần được xác định như là điểm xa nhất " mà từ đó một giọt mưa sẽ làm cho đường tới cửa sông " - bất kể nó chảy liên tục. Về phương diện này , họ khẳng định , các Mantaro là nguồn xa nhất.

Johnston Smithsonian , mặc dù ông là trong cuộc thám hiểm đó khẳng định tính ưu việt của Apurímac , cho rằng nghiên cứu mới cung cấp một viễn cảnh tươi . " Giả sử các phép đo đứng lên để giám sát , có, tôi nghĩ rằng Mantaro có thể được coi là một nguồn mới của Amazon, " ông nói, nhưng không phải là " nguồn ".



Khi nước chảy qua Mantaro , sông " có thể có một khoảng cách dòng chảy lớn hơn bất kỳ Amazon nhánh khác", Johnston nói. Nhưng khi Mantaro là khô ", các Apurímac là một lần nữa nơi mà nước chảy khoảng cách lớn nhất vào Amazon . "

Báo cáo định kỳ Nó có thể được dễ dàng hơn để truy nguyên nguồn gốc của các con sông khác, ghi chú Johnston, nhưng "Amazon, đến nay là sông lớn nhất trên thế giới, không phải là quá đơn giản." Các nhà khoa học cần phải nhìn vào cả ba của nó đề xuất các phụ lưu-nguồn Marañón, các Apurímac, và Mantaro-ông nói, để thực sự hiểu được Amazon hùng vĩ.


Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Trên báo Báo cáo môi trường đã viết UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam.



Sau gần 30 năm khôi phục và phát triển Rừng ngập mặn Cần Giờ, các quần xã động thực vật rừng từ chỗ biến mất nay đã hình thành theo diễn thế tự nhiên của rừng, đúng với quy luật sinh thái. Quá trình khôi phục gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng với ý chí và quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, của các Sở, Ngành, địa phương; của cán bộ và nhân dân huyện Cần Giờ đã hoàn thành việc khôi phục hơn 37.000 ha rừng ngập mặn trong thời gian ngắn nhất.



Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được Chương trình Con người và Sinh Quyển - MAB của UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới.

Sự khôi phục và phát triển cũng như bảo vệ của khu rừng này ghi nhận trong Bcao môi trường định kỳ sự đóng góp rất lớn của lực lượng thanh niên xung phong thành phố Hồ Chi Minh và nhân dân Cần Giờ. Hiện khu rừng đã được giao cho chính người dân nơi đây chăm sóc và quản lý.


Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện Bcao môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn. Rừng Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây rất phong phú với trên 150 loài thực vật, trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác.

Về thực vật: nhiều loại cây, chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi - bần trắng cùng xu ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ như bần chua, ô rô, dừa lá, ráng, v.v… Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất canh tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, các loại cây ăn quả.



Đây là một khu rừng mà theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài là được khôi phục, chăm sóc, bảo vệ thuộc loại tốt nhất ở Việt Nam và toàn thế giới. Đây cũng là địa điểm lý tưởng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái.

Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành "lá phổi" đồng thời là "quả thận" có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai - Sài Gòn để ra biển Ðông.

Từ một vùng đất nghèo, Cần Giờ đã đổi thay khi được Thành phố Hồ Chí Minh quy hoạch và phát triển thành khu du lịch sinh thái. Báo cáo giám sát môi trường định kỳ  Năm 2000, khu du lịch sinh thái Vàm Sát nằm trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ được thành lập, tháng 2/2003 đã được chức du lịch thế giới cũng công nhận khu du lịch Vàm Sát là một trong hai khu du lịch sinh thái phát triển bền vững của thế giới ở nước ta. Ở đây có nhiều hoạt động du lịch thú vị như tham quan đầm dơi, đi thuyền trên sông, thăm sân chim với rất nhiều loài chim sinh sông, tiếp xúc với đàn khỉ hoang dã, tìm hiểu về hệ thực vật - động vật nơi đây.

Tiếp giáp về phía Nam của rừng Cần Giờ là biển Đông. Biển Đông trong xanh, bờ cát mịn, với không khí thoáng mát voi một khu sinh thái, đang được xây dựng trở thành khu du lịch hiện đại.



Đến hẹn lại lên thông tin cập nhật Báo cáo giám sát môi trường cuộc thi Môi Trường Xanh 2014 thông điệp Marcellus đã khởi đầu ấn tượng. Đây là cuộc thi được tổ chức thường niên do Khoa Môi Trường trường Đại học Bách Khoa ĐHQG tp.Hồ Chí Minh tổ chức, được đông đảo các học sinh, sinh viên... tham gia.





Theo thông tin Báo cáo môi trường, cuộc thi HỌC THUẬT môi Trường Xanh 2014 với chủ đề “Thông điệp Marcellus” đã bắt đầu khởi động với buổi giới thiệu được tổ chức vào lúc 8h00, ngày 22/12/2013 tại Hội trường A4, ĐH Bách Khoa TPHCM.

Đông đảo quan khách, đại diện các đội tham dự, các đơn vị tài trợ cho cuộc thi môi trường xanh 2014 đã tham dự lễ giới thiệu ấn tượng này .





Cuộc thi học thuật Môi trường xanh do Đoàn Thanh niên khoa Môi trường, trường ĐH Bách Khoa, ĐHQG TP. HCM tổ chức hằng năm. Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003, cuộc thi Môi trường xanh ban đầu chỉ diễn ra trong quy mô nhỏ, là một sân chơi để các sinh viên trong khoa giao lưu, học hỏi, trau dồi thêm kiến thức.

Nhưng Báo cáo môi trường định kỳ nhận thấy rằng, càng ngày các vấn đề môi trường càng trở nên nghiêm trọng hơn, thiên nhiên bị tàn phá, con người đang phải gánh chịu những hậu quả mà con người đã gây ra, Môi trường xanh quyết định sứ mệnh cho mình: Cung cấp thêm thông tin, kiến thức, nâng cao nhận thức của các bạn trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.








Với sứ mệnh đó, cuộc thi không ngừng phát triển hình ảnh, quy mô, nâng cao chất lượng, mở rộng đối tượng dự thi để lan truyền thông điệp sống xanh, nghĩ xanh của mình đến các bạn trẻ. Từng thế hệ sinh viên khoa Môi trường tiếp nối cuộc thi luôn ý thức vai trò, trách nhiệm của mình để sau 11 năm, Môi trường xanh đã trở thành một sân chơi quen thuộc của các bạn trẻ yêu môi trường đang theo học tại các trường THPT, đại học, cao đẳng trên toàn thành phố. Bcao môi trường định kỳ

Cuộc thi Môi trường xanh 2014 với chủ đề “Thông điệp Marcellus” đang bắt đầu khởi động. Mỗi đội thi gồm 5 người sẽ trải qua các vòng thi dưới nhiều hình thức khác nhau: Lý thuyết, vận động, trò chơi lớn, gameshow…

Marcellus là tên một vùng đất ở Mỹ, nơi trữ một lượng khí đốt khổng lồ dưới dạng đá phiến sét, đủ cho nước Mỹ sử dụng trong vòng 2 thập kỷ. Việc phát hiện ra điều này trong tình hình năng lượng thế giới đang dần khan hiếm và đắt đỏ đã châm ngòi cho cuộc chiến năng lượng diễn ra trên toàn thế giới.



Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Posted by Unknown 22:56
Đến hẹn lại lên, 014- thông điệp Marcellus đã khởi đầu ấn tượng

(Tinmoitruong.vn) - Như đã đưa tin, cuộc thi HỌC THUẬT môi Trường Xanh 2014 với chủ đề “Thông điệp Marcellus” đã bắt đầu khởi động với buổi giới thiệu được tổ chức vào lúc 8h00, ngày 22/12/2013 tại Hội trường A4, ĐH Bách Khoa TPHCM.

Đông đảo quan khách, đại diện các đội tham dự, các đơn vị tài trợ cho cuộc thi môi trường xanh 2014 đã tham dự lễ giới thiệu ấn tượng này .

Cuộc thi học thuật Môi Trường Xanh 2014  (MOX 2014) được tổ chức với chủ đề “Thông điệp Marcellus” bắt đầu khởi động vòng sơ loại diễn ra vào ngày 11 và 12/01/2014.

Đồng hành cùng cuộc thi học thuật Môi Trường Xanh 2014: đơn vị tài trợ Công ty cổ phần phát triển khoa học công nghệ Mỹ Úc và đơn vị bảo trợ truyền thông:Tin Môi Trường (www.tinmoitruong.vn).

Đây là lần thứ 2, TMT bảo trợ truyền thông cho cuộc thi học thuật Môi Trường Xanh này. Lần 1 vào năm 2012.

TMT giới thiệu một số hình ảnh ấn tượng của buổi lễ giới thiệu cuộc thi học thuật môi trường xanh 2014:

Tiếp theo loạt bài từ Báo cáo giám sát môi trường về sự suy giảm tầng ozone, chúng tôi xin giới thiệu thêm với các bạn loạt bài của Cục Môi Trường Mỹ (EPA) và Chương trình Môi Trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) về hóa học của ozone, diện tích lổ thủng ở tầng ozone và các ảnh hưởng của UVB đến sức khoẻ con người và môi trường.





Lổ thủng tầng ozone năm 1995
Giảm thiểu các tác động gây ảnh hưởng xấu đến môi trường


Các câu hỏi và trả lời về sự suy giảm tầng ozone
Tầng ozone là gì? Tại sao nó lại có vai trò quan trọng?
Sự suy giảm tầng ozone diễn ra như thế nào?
Tại sao chúng ta biết là các nguồn tự nhiên không ảnh hưởng đến sự suy giảm tầng ozone?
Những hoạt động nào đã được con người tiến hành để đối phó với sự suy giảm tầng ozone?
Có sự thống nhất giữa các nhà khoa học về cơ chế suy giảm tầng ozone hay không?

Bầu khí quyển bao quanh Trái đất của chúng ta được chia ra làm nhiều tầng khác nhau: từ mặt đất lên đến độ cao 10 km là tầng đối lưu và từ 10 km trở lên đến 50 km là tầng bình lưu. Tầng ozone là sự tập trung các phân tử ozone ở tầng bình lưu. Khoảng 90% lượng ozone trong khí quyển của chúng ta tập trung ở tầng bình lưu. Tầng ozone rất quan trọng đối với sự sống trên Trái đất vì nó hấp thụ phần lớn tia cực tím của bức xạ mặt trời, không cho các tia này đến được Trái đất. Nếu tầng ozone bị suy giảm, bức xạ UV sẽ đến Trái đất nhiều hơn và làm tăng bệnh ung thư da, đục nhân mắt (cataract), làm giảm sản lượng lương thực, ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển.

Theo Bcao giám sát Tầng ozone bị suy giảm do con người thải các chất khí CFC (Chlorofluorocarbon) và các chất ODS (Ozone depleting substances) khác vào khí quyển. CFCs được sử dụng làm chất sinh hàn, chất tạo bọt, dung môi... Các chất ODS khác bao gồm: methyl bromide (làm thuốc trừ sâu), halons (trong các bình chữa cháy), methyl chloroform (dùng làm dung môi trong nhiều ngành công nghệ)... Mặc dầu CFC nặng hơn không khí, nhưng nó có thể lên đến tầng bình lưu bằng một quá trình kéo dài từ 2 - 5 năm. Người ta đo nồng độ CFC ở tầng bình lưu bởi các khinh khí cầu, phi cơ và các vệ tinh. Khi CFCs đến được tầng bình lưu, dưới tác dụng của tia cực tím nó bị phân hủy tạo ra Chlor nguyên tử, và Chlor nguyên tử có tác dụng như một chất xúc tác để phân hủy Ozone. Một nguyên tử Chlor có thể phá hủy 100.000 phân tử ozone. Methyl bromide khi lên đến tầng bình lưu sẽ bị tia cực tím phân hủy để cho ra Brom nguyên tử, một nguyên tử brom có khả năng phá hủy các phân tử ozone gấp 40-50 lần một nguyên tử chlor.

Với sự tài trợ của UNEP và WMO (cơ quan khí tượng thế giới), các khía cạnh của sự suy giảm tầng ozone được báo cáo môi trường. Hơn 300 nhà khoa học đã viết và gởi bài về cho hai cơ quan này.



Có rất nhiều sự hiểu lầm về các khía cạnh khoa học của việc suy giảm tầng ozone, bài viết này nhằm làm rõ các vấn đề đó.
CFCs nặng hơn không khí, do đó nó không thể lên đến tầng ozone được
Núi lửa và các đại dương gây ra sự suy giảm tầng ozone
Sự suy giảm tầng ozone chỉ diễn ra ở Nam Cực
Không có mối quan hệ giữa sự suy giảm tầng ozone và việc tăng tia cực tím đến Trái đất

CFCs nặng hơn không khí, nếu CFCs hiện diện trong một căn phòng không có gió, nó sẽ lắng xuống sàn nhà. Bầu khí quyển chúng ta luôn luôn xáo động bởi gió, CFCs và không khí sẽ trộn lẫn vào nhau và cuối cùng chúng sẽ đến được tầng bình lưu. Hàng ngàn phép đo đạc trong nhiều thập kỷ đã chứng minh sự hiện diện của các chất khí nặng hơn không khí này ở tầng bình lưu.


Vào tháng 12 năm 1994, 300 nhà nghiên cứu hàng đầu đã công bố các kết quả của mình. Họ kết luận là hàm lượng ozone biến thiên theo vĩ độ và theo mùa. Theo họ, tầng ozone ở các khu vực có vĩ độ trung bình suy giảm 10% vào mùa đông và 5% vào mùa hè. Kể từ năm 1979, tầng ozone ở các khu vực này đã suy giảm ở tốc độ 5% trong một thập kỷ. Tuy nhiên, sự suy giảm xảy ra mạnh hơn ở các khu vực có vĩ độ cao (vùng cực).

Các nghiên cứu ở Nam Cực cho thấy có sự quan hệ rõ ràng giữa việc suy giảm tầng ozone với sự gia tăng của tia cực tím. Trong thời gian xuất hiện lổ thủng tầng ozone hàng năm, lượng tia cực tím đo được ở đây cao gấp hai lần so với các khu vực có cùng góc chiếu của mặt trời. Các nghiên cứu ở Toronto cho thấy rằng có mối liên hệ giữa những ngày có hàm lượng ozone thấp và cường độ bức xạ cực tím cao, các nghiên cứu ở Đức, Hy Lạp, Iceland cũng cho các kết quả tương tự. Báo cáo môi trường định kỳ  Cuối cùng, các nghiên cứu tiến hành trong phòng thí nghiệm cho thấy ozone cũng hấp thụ tia cực tím.

Lổ thủng của tầng ozone theo định nghĩa của Cục Môi Trường (EPA) Mỹ là khu vực có hàm lượng ozone thấp hơn 220 đơn vị dobson (DU). Ở Nam cực hàm lượng ozone thấp nhất xảy ra ở những khu vực khác nhau, trong những thời điểm khác nhau. Kỷ lục thấp nhất của tầng ozone là 88 DU được ghi nhận vào năm 1994. Trung bình diện tích lớn nhất của lổ thủng tầng ozone là 23 triệu km2 được ghi nhận vào năm 1994 (so với diện tích của Nam cực là 13 triệu km2). Diện tích lớn nhất ở một thời điểm xác định là 26 triệu km2 (lớn hơn diện tích của Bắc Mỹ [khoảng 24 triệu km2]) ghi nhận được vào năm 1996. Hàng năm lổ thủng tầng ozone bắt đầu xuất hiện vào tháng 8, đạt đến cực đỉnh vào tháng 10 và biến mất vào tháng 12.


Can we make more ozone?

Chúng ta có thể sản xuất thêm ozone hay không?

Câu trả lời ngắn gọn là không. Ozone được sản sinh và phân hủy tự nhiên bởi tác dụng của của các tia UV có bước sóng khác nhau. Bình thường thì quá trình này cân bằng, do đó hàm lượng ozone ở tầng bình lưu được giữ ổn định. Nếu chúng ta sản xuất ozone và đưa nó vào tầng bình lưu thì quá trình phân hủy ozone sẽ tăng tốc cho tới khi nào hàm lượng ozone được duy trì ổn định ở một mức nào đó. Thêm vào đó, để sản xuất ozone chúng ta phải tiêu thụ một lượng lớn năng lượng. Để sản xuất ozone đạt mức bình thường, ta phải tiêu thụ gấp hai lần lượng điện năng tiêu thụ của Mỹ. Do đó không có cách nào để sản xuất nhanh và nhiều ozone để thay thế quá trình tự nhiên.


Ozone depletion over North America

Sự suy giảm tầng ozone ở Bắc Mỹ

Các số liệu đo đạt Báo cáo giám sát môi trường định kỳ của vệ tinh Nimbus -7 cho thấy ở Bang Seatle, Miami, Los Angeles từ tháng 3/1979 đến tháng 3/1994 tầng ozone ở khu vực này đã bị suy giảm. Cụ thể là ở Seatle giảm từ 391 DU (1979) xuống còn 360 DU (1994); ở Los Angeles từ 368 DU (1979) xuống còn 330 DU (1994); ở Miami từ 303 DU (1979) xuống còn 296 DU. Các số liệu này đã chứng minh sự suy giảm ozone mang tính toàn cầu chớ không phải chỉ xảy ra ở Nam Cực.

Nguồn: http://www.ctu.edu.vn/colleges/tech/bomon/ttktmoitruong/Giaotrinh/MrViet/Bai4.htm

Theo bản tin Khai thác nước ngầm thì Việt Nam là quốc gia có lượng nước phong phú với 853 tỉ m3 nước qua lãnh thổ, nhưng chỉ 40% nguồn nước trên là do trong nước tạo ra, còn lại 60% là nguồn nước từ nước ngoài chảy vào, nguồn chủ yếu từ Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Lào và Campuchia. 


Các nước này đều đang ở trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng. Quá trình phát triển này, dù bằng cách nào cũng sẽ đặt ra cho các nước nói trên yêu cầu tận dụng hợp lý tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ của họ. Chế độ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vào nước ta sẽ thay đổi.

Vì vậy, nhìn một cách lâu dài, việc kthac nước ngầm không thể khẳng định là nước ta sẽ luôn luôn có tài nguyên nước phong phú, điều này khiến nước ta phụ thuộc lớn vào các quốc gia ở thượng nguồn. Hơn nữa, nguồn nước ngày càng ô nhiễm, quản lý tài nguyên nước lại chồng chéo nên hiệu quả sử dụng nguồn nước rất thấp.



Tại buổi hội thảo “Ứng dụng các giải pháp ngành nước tại Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) và Đại sứ quán Israel tại Việt Nam tổ chức ngày 26-8, ông Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hiệp hội nước Việt Nam cho hay lượng nước bình quân đầu người tại Việt Nam đạt 10.537m3 và lượng mưa bình quân năm đạt 1.320 - 3.050 mm.

Hiện nay Việt Nam có 75 hệ thống thủy lợi lớn, trong đó hồ chứa thủy lợi và thủy điện chứa 22 tỉ m3, lượng nước này so với nhu cầu chỉ đáp ứng được 25-30% nước mỗi năm.




Theo dự báo của Hiệp hội nước Việt Nam đề cập trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhu cầu nước cho các ngành đến năm 2020 vào khoảng 108,3 tỉ m3 nước, với lượng hồ chứa nước 22 tỉ m3 gần như sẽ không thay đổi do Việt Nam không thể làm hồ chứa nước lớn vì địa hình ¾ là đồi núi dốc. “Vậy chúng ta sẽ lấy nước ở đâu?” – ông Hồng đặt câu hỏi – “Trong khi việc khai thác sử dụng nguồn nước ngầm sẵn có cũng như khai thác nước mưa còn hạn chế”.

Bên cạnh đó, chất lượng nước đang ngày càng đi xuống khi có khoảng 1 tỉ m3nước thải chưa được xử lý, chưa kể nước sinh hoạt do người dân thải ra.
Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng đang đặt ra những bài toán khó cho việc quản lý tài nguyên nước khi trái đất cứ tăng lên 1 độ thì dòng chảy qua sông Hồng giảm 10-15%, qua sông Cửu Long giảm 16-24%. Theo dự báo của Hiệp hội nước Việt Nam, đến năm 2025, nguồn nước ở nước ta giảm xuống chỉ còn khoảng 807 tỉ m3.

Ngoài những nguyên nhân khách quan, việc Xin cấp phép khai thác sử dụng nước ngầm quản lý tài nguyên nước cũng rất chồng chéo. Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý chất lượng nước; Bộ NN-PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây Dựng quản lý việc sử dụng nước của các ngành theo thể chế riêng; UBND các tỉnh đang quản lý theo lãnh thổ... “Bộ Tài nguyên và Môi trường được nhà nước giao làm quy hoạch tổng hợp nguồn nước để phân phối cho các ngành thì đến nay quy hoạch đó chưa làm được và tôi tin rằng 5 năm tới cũng không làm được”, ông Hồng nói.

Nguồn tham khảo: Thùy Dung, 2013 “Nước cạn dần, quản lý nguồn nước chồng chéo” từ:
http://tintucmoitruong.vn/7/5930.tcmt

Theo thông tin tổng hợp từ Công ty môi trường Gấu trắng Bắc Cực là một loài động vật có vú lớn của bộ Ăn thịt (Carnivora), họ Gấu (Ursidae). Chúng là loài động vật sống gần địa cực tìm thấy xung quanh Bắc Băng Dương và chúng là loài động vật ăn thịt lớn nhất trên đất liền. 


Gấu Bắc Cực sinh sống trên lãnh thổ của năm quốc gia khác nhau. Chúng có mặt ở ngoài khơi bờ biển phía bắc và tây bắc Alaska, Canada, Greenland, Svalbard (Na Uy) và Liên bang Nga. Quần thể gấu Bắc Cực ước tính khoảng 16.000 đến 35.000, với khoảng 60% ở Canada.


Gấu Bắc Cực là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống băng giá phía bắc Trái Đất, theo các nghiên cứu báo cáo của Công ty tư vấn môi trường xét về mặt tiến hoá của sinh giới, nó là động vật xuất hiện khá muộn. Vào khoảng 50000 đến 100000 năm trước, một cuộc chạy đua để phát triển của loài gấu nhằm đương đầu với cuộc sống khắc nghiệt đã diễn ra trên vùng Bắc Cực. Trong quá trình này, chúng đã trải qua nhiều lần thay đổi đáng kể.


Gấu trắng Bắc Cực có một lớp mỡ dày trong cơ thể và có lớp lông dày như một chiếc áo khoác chống thấm nước mà cách ly cơ thể khỏi không khí lạnh. Bơi lội là tài năng bởi chúng có thể duy trì một tốc độ sáu dặm mỗi giờ.

Gấu Bắc cực dành hơn 50 % thời gian để tìm kiếm thức ăn, nhưng  trong đó ít hơn 2% những cuộc tìm kiếm là thành công. Thức ăn chính của gấu Bắc Cực là hải cẩu; không có loài động vật này, gấu Bắc Cực khó có thể tồn tại. Về mùa xuân, chúng săn hải cẩu vòng mới đẻ; về mùa hè, chúng săn hải cẩu râu, hải cẩu đầu chỏm. Gấu Bắc Cực là loài rất kén ăn. Khi ăn, chúng lột da hải cẩu và thường chỉ ăn lớp mỡ dưới da và bộ lòng. Chỉ khi nào quá đói chúng mới ăn toàn bộ xác con mồi. Cty môi trường đưa tin rằng Các loại mồi khác bao gồm cá heo trắng, voi biển và động vật gặm nhấm. Là một loài động vật ăn thịt thuần túy, chủ yếu là cá, gấu Bắc Cực hấp thụ một lượng lớn vitamin A, được lưu trữ trong gan.


Thường thì vào mùa hè do không có hải cẩu để săn, gấu Bắc Cực trở nên ăn tạp; chúng ăn hầu như bất cứ thứ gì tìm thấy được. Chúng đi rảo dưới các vách đá để tìm trứng và chim non bị rơi xuống từ các bờ đá. Chúng còn ăn cả chuột lemming, trái việt quất, dâu tây chua và thậm chí là cỏ héo, tảo,rong rêu biển.




 Một con Hải Cẩu làm “bữa ăn đầy dinh dưỡng” cho Gấu trắng Bắc Cực.






Theo Công ty tư vấn môi trường Tổng số gấu Bắc Cực được chia thành 19 đơn vị tiểu quần thể. Trong số đó, các dữ liệu mới nhất từ IUCN Nhóm chuyên gia cho thấy, 8 tiểu quần thể đều đang giảm và ước tính có nguy cơ cao của sự suy giảm trong tương lai do biến đổi khí hậu.
Do sự suy giảm liên tục và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu mà môi trường sống của chúng đang dần thu hẹp, gấu Bắc cực được đưa vào danh sách loài bị đe dọa ở Mỹ tháng 5 năm 2008.



Hãy chung tay Hành động vì cty tư vấn môi trường để bảo tồn các loài động vật một cách “Bền vững” nhất!!!

Bài viết sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn: http://worldwildlife.org/species/polar-bear, http://vi.wikipedia.org/wiki/G%E1%BA%A5u_tr%E1%BA%AFng_B%E1%BA%AFc_C%E1%BB%B1c

  • RSS
  • Delicious
  • Digg
  • Facebook
  • Twitter
  • Linkedin
  • Youtube